Hiển thị các bài đăng có nhãn Suy-than. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Suy-than. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 6, 2018

Suy thận mạn giai đoạn cuối nguy hiểm như thế nào?

Suy thận mạn giai đoạn cuối dường như là nỗi ám ảnh của rất nhiều người bởi đây là “căn bệnh nhà giàu” có thể dẫn tới tử vong. Sau đây, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu xem suy thận mạn giai đoạn cuối nguy hiểm như thế nào, dấu hiệu nhận biết ra sao và có phương pháp điều trị căn bệnh này hay không nhé.

Bạn đọc xem thêm:


1/ Suy thận mạn giai đoạn cuối là gi? Bệnh nguy hiểm ra sao?

Suy thận là bệnh lý mà chức năng của thận bị suy giảm do các tế bào cấu trúc thận bị tổn thương, làm mất đi các chức năng của chúng. Suy thận được chia thành suy thận mạn và suy thận cấp.

Suy thận mạn là trường hợp suy thận mà các tế bào thận bị tổn thương trong thời gian dài. Khi bị suy thận mạn, chức năng thận bị suy giảm sẽ không có khả năng phục hồi nữa.



Ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối,  mức lọc cầu thận chỉ còn dưới 5 ml/phút, nồng độ creatinin máu trên 900 µmol/l. Lúc này, chức năng thận đã suy giảm tới 90%. Thận gần như không còn khả năng thực hiện các nhiệm vụ của mình nữa. Bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối buộc phải thực hiện các phương pháp điều trị thay thế thận để duy trì sự sống.

Ngoài ra, bệnh còn có thể tiến triển thành các biến chứng nguy hiểm khác cho hệ tim mạch, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ thần kinh và cơ xương khớp như: suy tim, xơ vữa động mạch, rối loạn tâm thần,…

2/ Một số dấu hiệu để nhận ra bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối


Bệnh suy thận mạn tuy không có các triệu chứng đặc hiệu, riêng biệt nhưng ở suy thận mạn giai đoạn cuối có thể xuất hiện một số triệu chứng của bệnh bộc lộ một cách rõ ràng sau đây:

-          Vô niệu, tiểu ra máu, đạm niệu: Ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối, mức lọc cầu thận đã giảm xuống dưới 5 ml/phút, dẫn đến tình trạng ít niệu, vô niệu. Trong nước tiểu của bệnh nhân có thể có lẫn tế bào hồng cầu và protein, gây nên triệu chứng tiểu ra máu, đạm niệu. Nước tiểu của bệnh nhân có thể có màu hồng hoặc sủi bọt lăn tăn.

-          Khó thở: Khi bệnh suy thận mạn đã tiến triển đến giai đoạn cuối, các dịch lỏng dư thừa bị tích tụ trong cơ thể có thể tràn vào phổ, gây nên triệu chứng khó thở ở người bệnh.

-          Suy nhược: Khi cơ thể bị thiếu chất do nước, protein và khoáng chất không được thận giữ lại, theo nước tiểu đào thải ra ngoài, kết hợp với chứng chán ăn và buồn nôn ở người bệnh, dần dần người bệnh có thể bị suy nhược.

-          Rối loạn tâm thần: Bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối có thể bị thiếu máu trầm trọng, tức là thiếu tế bào hồng cầu có thể vận chuyển oxy tới các cơ quan khác dẫn đến các rối loạn về thần kinh. Bệnh nhân có thể hôn mê, mê sảng, rối loạn thần kinh vận động.

-          Chuột rút, co quắp chân tay, cao huyết áp: đây là các biểu hiện do nồng độ kali trong máu tăng cao ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối.

-          Hội chứng ure máu: Khi suy thận mạn tiến triển đến giai đoạn cuối, nồng độ ure nhiễm trong máu bệnh nhân tăng cao, gây nên một số các biến chứng cho hệ tuần hoàn như cao viêm nhiễm, suy tim, sung huyết, tràn dịch màng tim,… khiến bệnh nhân thấy đau, tức ngực.

3/ Một số phương pháp đang được sử dụng để điều trị suy thận mạn giai đoạn cuối

Bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối chỉ có thể duy trì sự sống bằng các phương pháp điều trị thay thế thận. Một số phương pháp đang được áp dụng rộng rãi hiện nay là:

-          Phương pháp thẩm phân phúc mạc: phương pháp này là phương pháp lọc máu thông qua 1 ống mềm được đưa vào khoang bụng người bệnh. Ống mềm này có công dụng đưa các chất khoáng và đường đã được hòa tan trong nước vào khoang bụng của bệnh nhân và đưa các chất thải và dịch lỏng dư thừa ra ngoài. Mỗi lần lọc máu như vậy thường kéo dài khoảng 30 phút.

Phương pháp này có thể thực hiện tại nhà, bệnh nhân cần phải lọc máu khá thường xuyên và chi phí của phương pháp lọc máu này cũng khá cao.

-          Phương pháp chạy thận nhân tạo: đây là phương pháp lọc máu sử dụng máy thẩm tách để thay thận loại bỏ các chất thải và nước dư thừa trong máu, kiểm soát huyết áp và giữ cân bằng nội môi trong máu.

Mỗi lần lọc máu thường kéo dài khoảng 3 – 4 giờ và số lần lọc trong tuần phụ thuộc vào tình trạng bệnh của bệnh nhân. Chi phí cho phương pháp này cũng không rẻ và có thể gây ra các tác dụng phụ như chuột rút, tăng huyết áp. Tuy nhiên, những tác dụng phụ này cũng có thể dễ dàng sử lý nên người bệnh cũng không cần phải quá lo lắng.

-          Ghép thận: Khi tìm được thận tương thích với bệnh nhân thì có thể tiến hành ghép thận. Tuy nhiên, việc tìm được thận tương thích khá khó khăn và việc ghép thận đòi hỏi bác sĩ phải có kĩ thuật cao. Chi phí cho 1 lần ghép thận cũng rất đắt, không phải bệnh nhân nào cũng có thể chi trả được và sau khi ghép thận bệnh nhân cũng phải dùng thuốc để ngăn chặn việc hệ miễn dịch của cơ thể tự đào thải thận mới.
-          Sử dụng tế bào gốc: đây là phương pháp đang được kì vọng sẽ mở ra một bước ngoặt lớn trong điều trị suy thận.

Trên đây là một số thong tin về bệnh suy thận man giai đoạn cuối, hi vọng đã cung cấp cho các bạn những kiến thức bổ ích. Chúc các bạn luôn có một sức khỏe thật tốt.

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2018

Những nguyên nhân, mức độ nguy hiểm và cách điều trị suy thận mạn

Suy thận mạn là một căn bệnh vô cùng nguy hiểm, đe dọa trực tiếp đến tính mạng người bệnh. Vậy nguyên nhân suy thận mạn là gì?

Bạn đọc xem thêm: Những Tiêu chuẩn suy đoán bệnh suy thận cấp

Suy thận mạn là gì? 

Suy thận là sự suy giảm mức lọc cầu thận dưới mức bình thường. Suy thận mạn  hay suy thận mạn tính là khi mức lọc cầu thận giảm  cố định, thường xuyên, có liên quan đến sự giảm sút về số lượng nephron chức năng. Khi mức lọc cầu thận giảm xuống dưới 50% (60ml/phút) mức bình thường là (120ml/phút) thì được xem là suy thận mạn.



Đây là một hội chứng lâm sàng và tiến triển mạn tính qua nhiều giai đoạn, hậu quả của sự xơ hóa các nephron chức năng gây giảm sút từ từ mức lọc cầu thận dẫn đến tình trạng tăng nito phi protein máu như creatinin máu, urê, acid uric,…

Các cấp độ suy thận mạn và mức độ nguy hiểm của bệnh

Bệnh suy thận mạn thường tiến triển chậm và ở giai đoạn đầu ít xuất hiện triệu chứng rõ ràng cho tới khi phát hiện thì bệnh đã rất nặng đe dọa trực tiếp tới tính mạng người bệnh.
Lúc suy thận mạn đã vào giai đoạn cuối, chức năng của thận chỉ còn 10-15%. Nếu không được điều trị kịp thời, người bệnh có thể sẽ tử vong bởi các biến chứng của suy thận mạn.

Căn cứ vào mức lọc cầu thận,  suy thận mạn được chia làm các giai đoạn sau:

Giai đoạn đầu suy thận mạn (suy thận độ 1, 2): 

Bệnh ít có biểu hiện, người bệnh chỉ xuất hiện một số những triệu chứng lâm sàng như tiểu đêm nhiều lần, thiếu máu nhẹ, mệt mỏi, chán ăn, tức hai bên thắt lưng… nên rất khó phát hiện ra bệnh.

Chán ăn là dấu hiệu đầu của suy thận
Chán ăn là dấu hiệu đầu của suy thận

Giai đoạn 3 (suy thận độ 3): 

Đây là giai đoạn bệnh đã tiến triển khá nặng , người bệnh sẽ xuất hiện những biểu hiện lâm sàng bao gồm: tiểu đêm, buồn nôn, nôn, chán ăn,  nấc cục, xanh xao, tăng huyết áp, xuất huyết đường tiêu hóa, đau đầu, chân tay sưng phù, phù nề mi mắt, nặng hơn là khó thở, co giật, hôn mê.

Mức lọc cầu thận giảm xuống dưới 20 ml/phút, trong khi đó creatinin máu tăng trên 300 μmol/l . Ở giai đoạn 3 này người bệnh cần phải tiến hành chạy thận để giúp thận loại bỏ các chất độc trong máu.

Giai đoạn 4 (suy thận độ 4): 

Đây là lúc mà thận đã bị tổn thương nghiêm trọng , mức lọc cầu thận giảm xuống dưới 5 ml/phút và creatinin máu tăng tới hơn 900 μmol/l. Người bệnh xuất hiện đầy đủ các biểu hiện lâm sàng về tiêu hóa, thần kinh, tim mạch,  da và máu. Đối với suy thận mạn giai đoạn 4 người bệnh bắt buộc phải chạy thận và ghép thận để duy trì sự sống.

Suy thận cấp độ 4 phải đi chạy thận
Suy thận cấp độ 4 phải đi chạy thận

Vậy nguyên nhân suy thận mạn là gì?

Những nguyên nhân dẫn đến bệnh suy thận mạn

Có rất nhiều nguyên nhân suy thận mạn như:

  • Biến chứng của bệnh viêm thận IgA 
  • Biến chứng do bệnh tiểu đường, cao huyết áp, làm tổn thương đến các mạch máu nhỏ trong cơ thể từ đó khiến các mạch máu trong thận cũng bị ảnh hưởng và dần dần dẫn đến suy thận.
  • Viêm bể thận (hay nhiễm trùng thận)
  • Rối loạn tự miễn như hệ thống Lupus đỏ, xơ cứng động mạch, gây tổn hại các mạch máu trong thận.
  • Tắc nghẽn đường tiết niệu, do nhiễm trùng thường xuyên, hoặc có biến chứng giải phẫu xảy ra khi sinh 
  • Bệnh thận đa nang: xuất hiện nhiều u nang trong thận cũng là nguyên nhân suy thận mạn bởi u nang làm suy giảm chức năng của thận.
  • Sử dụng quá nhiều thuốc được chuyển hóa qua thận 

Phương pháp điều trị suy thận mạn 

Tùy thuộc vào mức độ suy thận để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp:
Bệnh nhân bị suy thận độ I, II và IIIA sử dụng phương pháp  điều trị bảo tồn, nhằm đảm bảo cho người bệnh giữ được chức năng thận lâu nhất có thể. Giảm thiểu sự tích lũy của ure và những độc tố thuộc ure, kiểm soát tăng huyết áp, làm chậm tiến triển của suy thận, giữ cân bằng nước điện giải và calcophospho.
Đối với bệnh nhân bị suy thận mạn giai đoạn IIIB và IV bắt buộc phải lọc máu,  thậm chí là ghép thận để duy trì sự sống.